Hiển thị các bài đăng có nhãn THỊ TRƯỜNG LÚA GẠO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THỊ TRƯỜNG LÚA GẠO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

Gạo Thái vẫn đứng vững sau bão

Thái Lan vừa mới trải qua những ngày tồi tệ nhất nước này khi bị phá hủy bởi trận lũ lụt vừa qua. Tuy nhiên, sản lượng và xuất khẩu gạo của Thái Lan trong năm nay sẽ không giảm đi mà vẫn duy trì được ở mức ổn định.




NGÀNH GẠO THÁI LAN SẼ KHÔNG BỊ THIỆT HẠI LỚN DÙ VỪA TRẢI QUA ĐỢT LŨ NGHIÊM TRỌNG

Mặc dù Thái Lan vẫn mất một phần diện tích lúa trong đợt lũ lụt vừa qua, nhưng sản lượng thóc năm 2017 của Thái Lan dự báo sẽ không đổi là 28 – 30 triệu tấn (tương đương khoảng 18 triệu tấn gạo đã tách vỏ). Số lượng này sẽ đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài, Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết.
Ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự của Hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Thái Lan (TREA) cũng cho rằng, thời điểm thu hoạch vụ lúa chính có thể bị chậm hơn một chút so với thường lệ vì trận lũ vừa qua, nhưng sẽ không gây ảnh hưởng lớn đến triển vọng sản lượng, giá cả cũng như hoạt động xuất khẩu gạo của Thái Lan. Vụ lúa chính tại Thái Lan thường được thu hoạch từ cuối tháng 10.
“Trận lũ vừa qua sẽ ảnh hưởng tới sản lượng gạo nếp, được trồng chủ yếu ở khu vực đông bắc Thái Lan nhưng sẽ không ảnh hưởng tới xuất khẩu gạo nói chung,” ông Chookiat nói. Gạo nếp chiếm 10 – 20% tổng sản lượng gạo cả nước của Thái Lan.
Giá gạo nếp theo đó sẽ tăng nhẹ vì nguồn cung bị thiếu hụt. Tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm áp lực lên giá cả trong thời kỳ thu hoạch sau đó, Theo ông Wichai Phochanakij, Phó Bộ trưởng Thương mại Thái Lan.

GIÁ GẠO THÁI LAN TĂNG GIÁ VÌ ĐÂU?

Theo ông Chookiat, yếu tố tiêu cực lớn nhất hiện nay với hoạt động xuất khẩu gạo là đồng baht tăng giá. Baht tăng giá khiến giá gạo Thái Lan kém cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên cả ông Chookia và TREA đều giữ nguyên dự báo xuất khẩu gạo năm 2017 của Thái Lan là 10 triệu tấn.
Ngoài yếu tố tiền tệ, giá gạo Thái Lan dự báo sẽ tiếp tục tăng vì nguồn cung giảm nhẹ do trận lũ lụt vừa qua trong khi nhu cầu tiêu thụ gạo của thế giới vẫn rất lớn, một quan chức trong ngành nhận định.
Trong thời kỳ xảy ra lũ lụt, giá lúa nội địa của Thái Lan đã tăng 5% lên 7.600 baht/tấn. Kết quả là, giá gạo trắng loại thường của Thái Lan (giá FOB) cũng tăng lên 390 USD/tấn, cao hơn nhiều so với mức giá chào bán 340 USD/tấn của các nước xuất khẩu gạo lớn khác như Ấn Độ, Việt Nam và Pakistan.
Trong vài tuần qua, tỉnh Sakon Nakhon phải hứng chịu đợt lũ lụt nghiêm trọng nhất trong 20 năm trở lại đây, do áp thấp nhiệt đới Sonca gây ra. Kết quả là, sân bay Sakon Nakhon phải ngừng hoạt động, toàn tỉnh cũng như các khu vực nông nghiệp chìm trong biển nước.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

Định hướng phát triển nghành lúa gạo tới 2030

Việt Nam định hướng đến năm 2030 Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam nhằm tổ chức lại sản xuất, từng bước xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam chất lượng cao.


Có bước chuyển tốt nhưng vẫn bấp bênh
Theo số liệu thống kê, 6 tháng đầu năm 2017, XK gạo của cả nước đạt 2,8 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,2 tỷ USD, tăng 3% về sản lượng và tăng 4,9% về giá trị so với cùng kỳ. Dù tình hình XK gạo có chiều hướng tăng trưởng, nhưng điều dễ nhận thấy là sự bấp bênh trong XK của mặt hàng này. Cụ thể, theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong tháng 4, giá gạo XK bình quân của nước ta giảm gần 20 USD/tấn; tháng 5 cũng giảm 11,83 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2016. Ðầu tháng 5-2017, giá gạo 5% tấm của Việt Nam chào bán chỉ ở mức 350 đến 354USD/tấn thì gạo Thái Lan đã ở mức 390USD/tấn; gạo Ấn Ðộ đạt 388USD/tấn; gạo Pakistan dao động ở mức 408 đến 412USD/tấn. Phải đến đầu tháng 6-2017, giá gạo XK của nước ta mới thật sự tăng khi gạo XK loại 5% tấm là 390USD/tấn và đây là mức giá cao nhất kể từ tháng 12-2014.
Theo nhận định của các chuyên gia thì mức tăng trưởng của lúa gạo XK chủ yếu dựa vào sản lượng. Trong tháng 6, tuy giá gạo thế giới có nhích lên, nhưng do giá gạo Việt Nam vẫn ở mức thấp hơn so với một số quốc gia XK khác, nên được các đối tác tìm mua nhiều hơn. Vì vậy XK gạo của nước ta mới có chiều hướng tăng. Bàn luận điều này, ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty TNHH Trung An (TP Cần Thơ), cho biết: “Trong phiên đấu thầu nhập khẩu 250.000 tấn gạo 25% tấm của Philippines, chúng ta trúng thầu. Điều này tác động tốt đến thị trường lúa gạo Việt Nam trong thời gian tới. Tuy vậy, phần lớn giá gạo XK theo các hợp đồng tập trung đã ký đều thấp hơn so với giá thị trường nên tính hiệu quả của toàn ngành không cao. Mặt khác, nếu giá lúa gạo nội địa “bật” lên quá cao thì khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam ở các hợp đồng thương mại sẽ kém hẳn”.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ: Gạo của ta từ trước đến nay vẫn chỉ đóng bao và mang nhãn hàng của doanh nghiệp hay quốc gia nhập khẩu. Vì vậy, có rất nhiều trường hợp gạo được sản xuất trong nước nhưng lại sử dụng bao bì nước ngoài và được bày bán trong các trung tâm thương mại. Đây là điều bất công và thiệt thòi lớn cho ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam. Việt Nam luôn tự hào là quốc gia XK lúa gạo lớn nhất nhì thế giới mà không biết rằng sự bấp bênh của sản lượng và giá trị là quá lớn. "Nguyên nhân giá trị hạt gạo của ta thấp là do chúng ta chưa chủ động trước những biến động nhanh chóng của thị trường”-ông Hiệp phân tích.
Thực tế, dù có thời gian dài tham gia thị trường XK nhưng đến nay, hầu hết người tiêu dùng chỉ biết đến gạo trắng và phân chia theo tỷ lệ tấm, mà chưa có thương hiệu gạo mang tên "Việt Nam". Ngay cả thị trường trong nước, gạo nội vẫn bị đánh giá thấp hơn nhiều so với gạo nhập khẩu từ Thái Lan hoặc Campuchia...

Định vị thương hiệu gạo Việt từ chất lượngTheo chiến lược phát triển gạo Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2020, lượng gạo XK đạt khoảng 4,5-5 triệu tấn, trị giá bình quân khoảng từ 2,2 đến 2,3 tỷ USD/năm. Giai đoạn 2021-2030, lượng gạo XK hằng năm khoảng 4 triệu tấn, trị giá xuất khẩu đạt 2,3-2,5 tỷ USD/năm. Chiến lược cũng xác định: Đến năm 2020, tỷ trọng gạo trắng phẩm cấp thấp và trung bình không vượt quá 20% tổng sản lượng gạo XK, gạo trắng phẩm cấp cao chiếm khoảng 25%; tỷ trọng gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm khoảng 30%, gạo nếp chiếm khoảng 20%. Các sản phẩm gạo có giá trị tăng cao như gạo dinh dưỡng, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo chiếm khoảng 5%. Bên cạnh đó, tăng tỷ lệ gạo XK trực tiếp và mang thương hiệu Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, theo các chuyên gia, ngoài việc phản ứng nhanh với những biến động trên thị trường lúa gạo thế giới, thì cũng phải nắm rõ tình hình sản xuất lúa gạo trong nước, để từ đó có thể điều hành thu mua và XK có lợi cho cả nông dân và doanh nghiệp. Riêng vấn đề xây dựng thương hiệu, theo TS Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), muốn xây dựng thương hiệu gạo trước hết phải khẳng định chất lượng giống. “Tại Thái Lan thương hiệu gạo quốc gia chỉ áp dụng cho 2 giống lúa KDML 105 và RD 15 hay Ấn Độ là nhóm Basmati. Còn ở nước ta, chỉ tính riêng ĐBSCL đã có hơn 100 giống lúa đang lưu hành; đồng thời có từ 15 đến 20 giống mới được xác nhận đưa vào sản xuất hằng năm. Như vậy không thể quản lý được thương hiệu với quá nhiều loại giống. Trong khi đó, chất lượng đầu vào là hạt giống không bảo đảm sẽ dẫn đến chất lượng gạo thấp, không khẳng định được hạt gạo Việt Nam trên thị trường xuất khẩu”-TS Trần Ngọc Thạch, cho biết.
Bàn giải pháp xây dựng thương hiệu gạo Việt, ông Huỳnh Trung Trứ, Phó giám đốc Sở Công Thương TP Cần Thơ cho rằng: “Một trong những biện pháp nâng cao giá trị của gạo XK là liên kết nông dân và doanh nghiệp định hướng sản xuất theo chuỗi để có thể kiểm soát quá trình sản xuất, chế biến, XK. Để xây dựng thương hiệu gạo Việt nên chọn lựa một loại giống riêng biệt. Ngoài giống ST Sóc Trăng có thể chọn lựa thêm giống lúa jasmine (giống thuần chủng). Bởi giống lúa này cho ra hạt gạo chất lượng cao, hạt dài, dẻo, thơm, tỷ lệ phần trăm tấm 5% đạt tiêu chuẩn chất lượng, thời gian canh tác ngắn ngày và cho năng suất cao. Với hai yếu tố là chất lượng cao, có thể sản xuất quy mô lớn và ổn định thời gian dài, theo tôi, giống lúa jasmine thích hợp nhất để xây dựng thương hiệu gạo Việt”.
Muốn xây dựng thương hiệu gạo Việt bằng cách chọn ra giống chất lượng, theo PGS, TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ, Nhà nước cần tổ chức bình tuyển các giống lúa ở từng vùng để chọn ra loại ngon nhất. Chẳng hạn, trong hơn 20 dòng của giống ST đặc sản sẽ tìm ra dòng tốt nhất để sản xuất giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận cung cấp cho nông dân. Khi đã chọn được giống, doanh nghiệp phải ký hợp đồng với hợp tác xã, cung cấp giống cho nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn GAP. “Mỗi cánh đồng vài trăm héc-ta chỉ gieo trồng một loại giống. Doanh nghiệp phải cử kỹ sư nông nghiệp theo suốt quá trình sản xuất, bảo đảm sản phẩm đầu vào cho đến đầu ra là gạo đóng gói XK đồng nhất về chủng loại và chất lượng, không có gạo khác lẫn vào. Có được sản phẩm chất lượng, doanh nghiệp yên tâm đăng ký nhãn hiệu, quảng bá, tiếp thị ra nước ngoài. Với quy trình này, doanh nghiệp nào làm ăn gian dối sẽ tự bị đào thải”- PGS, TS Võ Tòng Xuân, đề xuất.

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

“Giá gạo nên giảm 10 đến 15 USD/tấn để trở nên cạnh tranh”.

Cập nhật thông tin thị trường gạo ngày 22/3: Đồng rupee tăng mạnh, khiến giá xuất khẩu gạo của Ấn Độ quá đắt; Cơ hội đối với Việt Nam, Thái Lan, Campuchia giành thị phần thị trường.


Xuất khẩu gạo non-basmati của Ấn Độ có khả năng giảm trong vài tháng tới, khi giá xuất khẩu ngũ cốc trở nên quá đắt trên thị trường thế giới, do đồng ruppe tăng mạnh và giá lúa gạo thị trường nội địa tăng.
Xuất khẩu gạo từ nước xuất khẩu lớn nhất thế giới - Ấn Độ - sẽ tạo cơ hội cho các đối thủ Việt Nam, Thái Lan và Campuchia tăng thị phần trên thị trường toàn cầu.
“Gạo có xuất xứ khác có giá rẻ hơn so với Ấn Độ. Điều này khiến xuất khẩu gạo của Ấn Độ suy giảm”, Nitin Gupta, người đứng dầu kinh doanh gạo tại Olam Ấn Độ cho biết.
Trong tuần này, giá gạo parboiled 5% tấm Ấn Độ ở mức 410 USD/tấn, FOB từ cảng Kakinada ở bờ biển phía đông.
So với gạo Thái ở mức 390-392 USD/tấn và giá gạo Việt Nam ở mức 400-405 USD/tấn.
“Do đồng rupee ở mức cao, chúng tôi không thể so với mức giá chào ở Việt Nam hoặc Thái Lan”, M. Adishankar, giám đốc điều hành tại Sri Lalitha, nhà xuất khẩu hàng đầu tại Kakinada cho biết.
Đồng rupee tăng hơn 6,5% trong năm 2017, đạt mức cao nhất trong hơn 2 năm. Một đồng rupee tăng mạnh mẽ điều đó có nghĩa là, các nhà xuất khẩu gạo phải nâng giá xuất khẩu bằng đồng đô la Mỹ, để trang trải hoạt động mua vào và chi phí khác của họ.
Các khách mua gạo chủ yếu của Ấn Độ tại châu Phi như Benin, Senegal và Guinea không bằng lòng mua ở mức hiện tại, Adishankar cho biết.
Tháng trước, do giá gạo Ấn Độ tăng cao, Bangladesh đã ngừng ký hợp đồng – nước cần nhập khẩu gạo để bổ sung dự trữ, chịu ảnh hưởng bởi lũ lụt.
Sau khi thỏa thuận với Ấn Độ bị hủy bỏ, Bangladesh đã thỏa thuận sẽ mua 1 triệu tấn gạo từ Campuchia.
Tại Ấn Độ, giá lúa gạo vẫn tăng, do hầu hết nguồn cung từ vụ đông đã được tiêu thụ hết.
“Đến tận khi vụ thu hoạch mùa hè mới bắt đầu từ tháng 10, nguồn cung lúa gạo sẽ vẫn thắt chặt”, nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada cho biết.
Ấn Độ đã trồng 28 triệu ha lúa gạo tính đến 4/8, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng mưa tại khu vực các bang phía nam giảm, dấy lên mối lo ngại về vụ thu hoạch. “Nếu giá gạo Ấn Độ giảm, chúng ta có thể dự đoán nhu cầu từ thị trường Tây Phi từ tháng 10 cho đến lễ Giáng sinh sẽ gia tăng”, Gupta of Olam Ấn Độ cho biết.
“Giá gạo nên giảm 10 đến 15 USD/tấn để trở nên cạnh tranh”.

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Việt Nam – Mông Cổ thúc đẩy, tăng cường xuất khẩu nhiều mặt hàng quan trọng

Chính phủ Việt Nam – Mông Cổ tổ sẽ thúc đẩy, tăng cường xuất khẩu nhiều mặt hàng tổng hợp như: lúa gạo, thủy sản, chăn nuôi...



Đoàn đại biểu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Xuân Cường, Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong UBLCP Việt Nam –Mông Cổ làm trưởng đoàn. Đoàn đại biểu Mông Cổ do Bộ trưởng Bộ Lương thực, Nông nghiệp và Công nghiệp nhẹ Sergelen Purev, Chủ tịch Phân ban Mông Cổ trong UBLCP làm Trưởng đoàn.
Kỳ họp 16 đã diễn ra trong bầu không khí hữu nghị và cởi mở. Sau khi rà soát những hoạt động hợp tác trong thời gian qua (giữa hai Kỳ họp), hai bên đã thống nhất định hướng hợp tác và thảo luận các biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác, đưa các hợp tác đi vào thực chất, đáp ứng yêu cầu của Chính phủ 2 nước.
Trong thời gian tới, hai bên sẽ hợp tác chặt chẽ, đưa ra những biện pháp cụ thể, có tính khả thi để thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương, đồng thời khuyến khích sự hợp tác phát triển của cộng đồng doanh nghiệp hai nước, tăng cường xuất khẩu sang thị trường của nhau những mặt hàng có thế mạnh và bổ trợ cho nhau.
Mông Cổ mong muốn xuất khẩu sang Việt Nam các sản phẩm thịt chế biến, đông lạnh (thịt dê, cừu, ngựa), nguyên phụ liệu dệt may (da, lông, len), sản phẩm da, khoáng sản, bột thịt xương, quả đông lạnh (hắc mai biển, việt quất).
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu sang Mông Cổ các mặt hàng nông thủy sản, thực phẩm chế biến như: gạo, chè, cà phê, bánh kẹo, quả tươi (thanh long, nhãn, sầu riêng, măng cụt, vải, xoài, chanh leo, dừa, chuối…), quả chế biến, nước trái cây đóng hộp, thịt lợn, thịt gà, trứng gia cầm, thuốc thú y, vắc-xin, mật ong, thủy sản, các loại đồ uống, hàng tiêu dùng, hàng dệt may, máy móc, thiết bị dân dụng.
Hai bên nhất trí xây dựng cơ chế đối thoại chính sách, trao đổi thông tin và duy trì các hoạt động giao thương kết nối doanh nghiệp hai nước. Phía Mông Cổ sẽ thông tin cho Việt Nam về những cơ hội, quy định, thủ tục và ưu đãi khi đầu tư vào Mông Cổ; Phía Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm, bài học trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp. Hai bên nhất trí khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước tham gia các hội chợ triển lãm chuyên ngành, chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư và chia sẻ kiến thức, kỹ năng hoạt động doanh nghiệp.
Hai bên nghiên cứu thúc đẩy việc mở đường hàng không trực tiếp cả hai chiều giữa Hà Nội và U-lan-ba-to thông qua các chuyến bay thuê chuyến; thảo luận về triển khai mở rộng logistics đối với vận tải hàng hóa; tăng cường hợp tác giao lưu nhân dân, tuyên truyền, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, thể thao;
Nhân dịp này, Trưởng đoàn Việt Nam đã đến chào xã giao Thủ tướng Mông Cổ Ngài Jargaltulgyn Erdenebat. Thủ tướng Mông Cổ đánh giá cao tầm quan trọng của Kỳ họp UBLCP 16, trong bối cảnh Việt Nam và Mông Cổ đang nỗ lực củng cố, thúc đẩy, phát triển mối quan hệ truyền thống hữu nghị gắn bó đã được thiết lập chính thức từ năm 1954. Đến nay, hai nước đã 3 lần ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác (1961, 1979, 2000) và khoảng 20 Hiệp định mới về hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật và các lĩnh vực khác. Hai nước đã công nhận nhau là kinh tế thị trường đầy đủ từ năm 2013. Đặc biệt, các chuyến thăm của Lãnh đạo cấp cao hai Bên trong những năm gần đây đã góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Tin thị trường: Không có chuyện nguồn cung gạo thế giới bị thắt chặt

Tuy thị trường xuất khẩu gạo của nước ta gần đây đã khởi sắc nhưng với việc đẩy giá lúa gạo trong nước lên cao như hiện nay, rất có thể xuất khẩu gạo trong những tháng cuối năm sẽ lại đối mặt với khó khăn.

>> Tin cùng chuyên mục:

  1. Cập nhật tin tức giá gạo xuất khẩu hôm nay 16/8
  2. Giá lúa gạo tăng cao, xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng


Nhu cầu có tăng nhưng thị trường thế giới không thay đổi đột biến

Thay vì chỉ đạt khoảng 40-41 triệu tấn như các dự báo trước đó, liên tiếp trong ba tháng vừa qua, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã nâng dự báo xuất khẩu gạo thế giới năm nay lên 42,5 triệu tấn.
Hai tác nhân chủ yếu khiến thị trường xuất khẩu gạo thoát khỏi tình trạng trì trệ là nhu cầu nhập khẩu của Bangladesh tăng đột biến, đạt 700.000 tấn, và quốc gia bạn hàng nhập khẩu gạo truyền thống của nước ta là Philippines tăng 400.000 tấn, đạt 1,8 triệu tấn.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) cũng cho rằng, nhập khẩu gạo của thế giới năm nay tăng 2,8 triệu tấn. Trong đó, hai tác nhân chủ yếu nói trên lần lượt tăng 900.000 tấn và 800.000 tấn.
Cho dù vậy, xét trên tổng thể, thị trường gạo thế giới năm nay và năm 2018 không có đột biến theo chiều hướng có lợi cho các quốc gia xuất khẩu mà nghiêng về phía các quốc gia nhập khẩu.
Trước hết, theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, thay vì có gần 160 triệu héc ta như trong năm 2016, diện tích lúa của thế giới năm nay sẽ tăng lên hơn 160 triệu héc ta và năm 2018 sẽ tiếp tục tăng lên gần 162 triệu héc ta. Đây chính là lý do chủ yếu khiến sản lượng lúa thế giới năm nay tăng mạnh hơn 18 triệu tấn, đạt kỷ lục mới gần 722 triệu tấn và năm 2018 cũng gần tương tự.
Bộ Nông nghiệp Mỹ và FAO đều cho rằng trong năm nay, sản lượng lúa gạo của cả hai đối thủ cạnh tranh chủ yếu của nước ta là Ấn Độ và Thái Lan sẽ tăng, tổng cộng tăng gần 9 triệu tấn và 6,3 triệu tấn. Trong điều kiện được mùa như vậy, mặc dù tiêu dùng gạo thế giới trong năm nay tăng mạnh 10 triệu tấn, nhưng kho gạo dự trữ thế giới vẫn đạt 90 ngày tiêu dùng, còn năm 2018 sẽ tăng lên 93 ngày. Đây là mức dự trữ cao gấp rưỡi so với những năm sốt nóng giá gạo thế giới hồi giữa thập kỷ trước.
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, tuy nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng, nhưng mức tăng không nhiều, còn câu chuyện nguồn cung gạo trên thị trường thế giới bị thắt chặt được tuyên truyền khá rầm rộ trên không ít phương tiện truyền thông ở nước ta trong thời gian qua là thiếu cơ sở.

Giá đầu vào tăng trong khi giá đầu ra sẽ giảm

Có thể nói, trong bối cảnh hết sức ảm đạm những tháng đầu năm, việc nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng trong những tháng gần đây, đặc biệt là nhu cầu của Bangladesh và Philippines, là liều thuốc kích thích đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu gạo của nước ta hiện nay, bởi chúng ta chiếm thị phần không hề nhỏ.
Cụ thể, trong gói thầu 250.000 tấn của Philippines, các doanh nghiệp của nước ta đã giành được 170.000 tấn; còn trong tổng khối lượng nhập khẩu gạo của Bangladesh được đánh giá khoảng 700.000-900.000 tấn, chúng ta đã “chắc suất” 250.000 tấn.
Không những vậy, gần như chắc chắn Philippines sẽ còn phải nhập khẩu thêm gạo trong những tháng tới. Bởi lẽ, trong khi dự trữ gạo hiện nay đang quá mỏng, nước này có nghĩa vụ nhập khẩu hơn 800.000 tấn gạo theo cam kết với WTO. Trong đó, chúng ta “có phần” gần 300.000 tấn.
Cho dù vậy, có hai căn cứ chủ yếu sau đây để cho rằng xuất khẩu gạo của nước ta trong những tháng cuối năm nay sẽ lại khó khăn:
Thứ nhất, theo số liệu thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nếu như trong tháng 7-2016, giá lúa thường ở vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ ở mức 5.150 đồng/ki lô gam, giá gạo nguyên liệu 5% tấm ổn định ở mức 6.850 đồng/ki lô gam, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 445 đô la Mỹ/tấn thì cùng kỳ năm nay, “bộ ba” giá này đã là 5.483 đồng/ki lô gam, 7.483 đồng/ ki lô gam và 431 đô la Mỹ/tấn.
Trong điều kiện giá đầu vào tăng rất đáng kể như vậy, còn giá đầu ra xuất khẩu lại giảm đáng kể như vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đơn hàng xuất khẩu trong những tháng tới.
Thứ hai, như đã nói ở trên, năm nay thế giới được mùa, sản lượng lúa gạo đạt kỷ lục mới. Vì vậy, nguồn cung gạo trên thị trường thế giới dồi dào, kho gạo dự trữ của thế giới cũng dồi dào. Trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng không nhiều, khả năng giá gạo thế giới duy trì ở mức cao như trong quí 2 vừa qua là điều khó xảy ra.
Bên cạnh đó, lưu ý rằng Ấn Độ đang phải trả giá cho việc tăng giá gạo xuất khẩu của mình. Khi giá gạo non-basmati xuất khẩu bình quân trong quí 1 ở mức 361 đô la Mỹ/tấn, Ấn Độ xuất khẩu bình quân đạt 810.000 tấn; còn trong quí 2, khi giá xuất khẩu tăng mạnh lên 406 đô la Mỹ/tấn thì khối lượng xuất khẩu giảm mạnh xuống chỉ còn 700.000 tấn. Đáng lưu ý, nguyên nhân của việc giá gạo xuất khẩu tăng mạnh như vậy không phải là do nguồn cung bị thắt chặt, bởi nước này vẫn được mùa, mà chủ yếu do đồng rupee của nước này tăng quá mạnh.
Đồng baht của Thái Lan cũng tăng giá từ tháng 4 trở lại đây, và do vậy, cũng góp phần đẩy giá gạo xuất khẩu của nước này tăng. Nếu như giá gạo thường (tổng khối lượng gạo xuất khẩu trừ gạo Thai Hom Mali và gạo nếp) trong bốn tháng đầu năm nay dao động trong khoảng 362-372 đô la Mỹ/tấn thì trong hai tháng sau đó chỉ nhích một chút, lên 380-381 đô la Mỹ/tấn.
Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân đối với tổng khối lượng 5,4 triệu tấn đã xuất trong nửa đầu năm nay của Thái Lan chỉ đạt 426 đô la Mỹ/tấn, giảm 13 đô la Mỹ so với cùng kỳ và thấp hơn đáng kể so với mức 445 đô la Mỹ/tấn trong cùng kỳ của nước ta.
Như vậy, dường như người Thái đã và đang hành động khác với thông điệp phát đi của hội nghị lúa gạo của Bộ Thương mại nước này là kho dự trữ gạo của chính phủ tiền nhiệm đã cạn, nguồn cung gạo thế giới đang bị thắt chặt, giá gạo thế giới sẽ tăng, nhưng riêng giá gạo của mình lại giảm.

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Cập nhật thị trường lúa gạo trong nước ngày 17/8

Cập nhật thị trường lúa gạo ngày 17/8. Tại Đồng bằng sông Cửu Long khi thu hoạch vụ Hè Thu một mặt vẫn diễn ra khẩn trương mùa Thu Đông, song lúa không bán được do nhu cầu mua vào của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gạo gần như không có.

>> Tin cùng chuyên mục:

  1. Cập nhật tin tức giá gạo xuất khẩu hôm nay 16/8
  2. Giá lúa gạo tăng cao, xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng



Thời tiết mưa nhiều khiến nông dân trồng lúa gặp nhiều khó khăn trong khâu thu hoạch và phơi lúa, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng và giá cả lúa Hè Thu 2015. Theo Hệ thống cung cấp giá tại địa phương, diễn biến giá lúa tại các tỉnh ĐBSCL tuần qua như sau: tại An Giang, lúa IR50404 không đổi ở mức 4.150 – 4.250 đ/kg (lúa ướt); lúa OM 2514, OM 2717 ổn định ở mức 4.500 đ/kg (lúa ướt). Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 ổn định ở mức 3.950 đ/kg đối với lúa ướt và 4.800 đ/kg đối với lúa khô.

Tại Kiên Giang, lúa tẻ thường tăng nhẹ từ 5.100 đ/kg lên 5.200 đ/kg, lúa dài vẫn giữ ở mức 5.600 đ/kg. Thời điểm cuối tháng 7 đầu tháng 8/2015, giá gạo xuất khẩu đột ngột giảm trên phạm vi toàn cầu. Ngoại trừ Ấn Độ vẫn “giậm chân tại chỗ”, nhiều nước xuất khẩu gạo như Thái Lan, Việt Nam, Pa-kis-tan và Cam-pu-chia đang trong “cơn bão” giảm giá.

Vấn đề càng đáng lo hơn khi điều này rơi vào thời điểm ĐBSCL đang mùa thu hoạch vụ Hè Thu 2015 và giá gạo Việt Nam tiếp tục đứng ở mức thấp nhất thế giới, chất lượng gạo không cạnh tranh so với Thái Lan và Ấn Độ. Tuần qua, giá gạo 5% tấm chế biến từ lúa Hè Thu duy trì ở mức 340 – 345 USD/tấn (FOB Cảng Sài Gòn); gạo 25% tấm ở mức 325 – 335 USD/tấn.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), kết quả giao hàng từ ngày 01/7 đến ngày 23/7/2015 đạt 213.619 tấn, trị giá FOB đạt 81,122 triệu USD, trị giá CIF đạt 89,063 triệu USD. Tính từ ngày 01/1 đến ngày 23/7/2015 đạt 2,926 triệu tấn, trị giá FOB đạt 1,212 tỷ USD, trị giá CIF đạt 1,252 tỷ USD. 
BẢNG GIÁ GẠO XUẤT KHẨU MỚI NHẤT:

Mặt hàng
ĐVT
Giá (USD)
Cửa khẩu
Mã G.H
Gạo nếp VN 10% tấm xuất khẩu (LA) -bao 50kg; Kèm 104 bao rỗng cấp miễn phí; gía =442 USD/T/FOB- (1cont/ 26tan)&VN
TAN
442
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
Gạo trắng VN 5% tấm xuất khẩu ( Kèm 172 bao rỗng cấp miễn phí) -ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG FOB &VN
TAN
350
PHAO SSV02
FOB
Gạo thơm thượng hạng số 9 - 05% tấm. Đóng đồng nhất trong bao PP, trọng lượng tịnh 50 kg/bao.&VN
TAN
481,5
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
Gạo trắng Việt Nam 5% tấm. Đóng đồng nhất trong bao PP đơn 50kg tịnh/bao. 0.2% bao rỗng miễn phí giao kèm theo hàng. Giao hàng bằng tàu&VN
TAN
356,33
UNKNOWN
FOB
Gạo HNT số 5_05% tấm (Jasmine). Đóng đồng nhất trong bao PP lồng PE, trọng lượng tịnh 50 kg/bao.&VN
TAN
578
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
TẤM JASMINE VIỆT NAM ( TẤM ĐÓNG BAO 50KG)&VN
TAN
385
CANG MY THOI (AG)
FOB
Gạo Nàng Hoa Việt Nam 100% tấm. Hàng đóng đồng nhất trong bao PP 50Kg. Xuất kèm 2% bao rỗng dự phòng.&VN
TAN
380
CANG MY THOI (AG)
FOB

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Cập nhật tin tức giá gạo xuất khẩu hôm nay 16/8

Theo USDA, việc tăng lượng gạo nhập khẩu dự báo của Trung Quốc trong năm 2013 và 2014 do sức mua mạnh, khi mà giá gạo châu Á đang ở mức thấp và mối quan tâm ngày càng tăng về sự an toàn của gạo được trồng ở một số vùng của Trung Quốc.



Bảng cập nhật giá gạo xuất khẩu như sau:

Mặt hàng
ĐVT
Giá (USD)
Cửa khẩu
Mã G.H
Gạo nếp VN 10% tấm xuất khẩu (LA) -bao 50kg; Kèm 104 bao rỗng cấp miễn phí; gía =442 USD/T/FOB- (1cont/ 26tan)&VN
TAN
442
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
Gạo trắng VN 5% tấm xuất khẩu ( Kèm 172 bao rỗng cấp miễn phí) -ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG FOB &VN
TAN
350
PHAO SSV02
FOB
Gạo thơm thượng hạng số 9 - 05% tấm. Đóng đồng nhất trong bao PP, trọng lượng tịnh 50 kg/bao.&VN
TAN
481,5
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
Gạo trắng Việt Nam 5% tấm. Đóng đồng nhất trong bao PP đơn 50kg tịnh/bao. 0.2% bao rỗng miễn phí giao kèm theo hàng. Giao hàng bằng tàu&VN
TAN
356,33
UNKNOWN
FOB
Gạo HNT số 5_05% tấm (Jasmine). Đóng đồng nhất trong bao PP lồng PE, trọng lượng tịnh 50 kg/bao.&VN
TAN
578
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
TẤM JASMINE VIỆT NAM ( TẤM ĐÓNG BAO 50KG)&VN
TAN
385
CANG MY THOI (AG)
FOB
Gạo Nàng Hoa Việt Nam 100% tấm. Hàng đóng đồng nhất trong bao PP 50Kg. Xuất kèm 2% bao rỗng dự phòng.&VN
TAN
380
CANG MY THOI (AG)
FOB

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Giá lúa gạo tăng cao, xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng



Vụ Thu Đông năm nay là một vụ mùa đặc biệt của bà con nông dân. Bên cạnh giá gạo đang tăng cao, vụ Thu Đông là vụ lúa bù đắp cho sản lượng lúa cả nước đã bị tụt giảm trong vụ Đông Xuân 2017. Đây là cơ hội để nông dân đồng bằng Sông Cửu Long tranh thủ thời cơ phục vụ xuất khẩu gạo, tăng thu nhập.
Giá lúa gạo tăng cao, xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tình hình xuất khẩu gạo của nước ta trong 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,3 triệu tấn với trị giá 1,5 tỷ USD, tăng gần 30% về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Sau một thời gian chững lại, hiện giá gạo xuất khẩu của nước ta đã bắt đầu tăng cao.
Hiện các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gạo ở ĐBSCL đang đẩy mạnh thu mua và chế biến gạo để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu từ nay đến cuối năm. Không chỉ có nhiều đơn hàng xuất khẩu, giá gạo hiện đang ở mức cao so với cùng kỳ. Đối với các hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung dự kiến sang Philippines, Indonesia, giá đã tăng lên gần 600 USD/tấn gạo cấp cao.

Vụ Thu Đông năm nay là một vụ mùa đặc biệt của bà con nông dân. Bên cạnh giá gạo đang tăng cao, vụ Thu Đông là vụ lúa bù đắp cho sản lượng lúa cả nước đã bị tụt giảm trong vụ Đông Xuân 2017. Đây là cơ hội để nông dân đồng bằng Sông Cửu Long tranh thủ thời cơ phục vụ xuất khẩu, tăng thu nhập.
Không chỉ trong ngành lúa gạo, năm 2017 cũng là năm thăng hoa của ngành xuất khẩu rau quả. Tính riêng 7 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu rau quả của cả nước ước đạt 2,03 tỷ USD, tăng gần 49% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt giá trị xuất khẩu của hạt điều và chỉ thấp hơn mặt hàng cà phê 90 triệu USD. Với đà này, năm nay sẽ là năm đầu tiên xuất khẩu rau quả đạt chỉ tiêu 3 tỷ USD.
Lộc Trời hưởng “lộc”
Yếu tố khách quan được hỗ trợ đã góp phần tăng doanh thu của CTCP Tập đoàn Lộc Trời (mã LTG – HoSE), một tập đoàn nông nghiệp sở hữu chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững với 20% thị phần thuốc bảo vệ thực vật và hơn 4% thị phần ngành giống cây trồng.
Báo cáo kết quả kinh doanh bán niên năm 2017 của Lộc Trời cho thấy Tập đoàn đạt 4.075 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 15% cùng kỳ năm trước trong đó doanh thu mảng thuốc thực vật tăng 21% còn mảng giống cây trồng tăng 30% cùng kỳ năm trước.
Biên lợi nhuận của mảng thuốc BVTV của Lộc Trời đã cải thiện từ mức 31% cùng kỳ 2016 lên 35% năm nay, trong khi biên mảng giống cây trồng tăng rất mạnh từ 18% lên 28%. Điều này là nhờ hệ thống phân phối của Lộc Trời đã đi vào hoạt động ổn định sau khoảng thời gian 2 năm tái cơ cấu. Kết thúc quý 1 năm 2017, lợi nhuận sau thuế của Lộc Trời đạt 196 tỷ đồng, tăng 23% cùng kỳ năm trước.
Với điều kiện thị trường nông sản thuận lợi như thời điểm hiện tại, doanh thu thuần năm 2017 của Lộc Trời được dự báo ở mức hơn 8.600 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2016, lợi nhuận sau thuế đạt mức 426 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2016 và đây là năm bắt đầu tăng trưởng trở lại của Lộc Trời sau một thời gian dài tái cơ cấu. Với kết quả này, lợi nhuận trên mỗi cổ phần của Lộc Trời năm 2017 ước đạt 5.390 đồng/cp. Theo phân tích của một quỹ đầu tư, sang năm 2018, doanh thu của tập đoàn này ước đạt hơn 9.500 tỷ, lợi nhuận sau thuế ước đạt 500 tỷ, EPS ở mức 6.337 đồng/cp.
Với mức giá hiện nay ở mức 53.500 đồng/cp, Lộc Trời đang giao dịch ở mức PE 2017 gần 10 lần và PE 2018 ước ở mức 8,4 lần, thấp đáng kể so với trung bình ngành.
Tập đoàn Lộc Trờivừa cho biết sẽ tiến hành chi trả cổ tức đợt 1/2017 với tỷ lệ 15% vào cuối quý 3, đầu quý 4/2017 và ngay sau đó sẽ chi tiếp 15% cho đợt còn lại. Như vậy tổng tỷ lệ LTG chi trả cổ tức năm 2017 là 30% bằng tiền mặt.
Kỳ vọng vào nhu cầu thực phẩm sạch
Hiện tại nhu cầu tiêu thụ lương thực trên toàn cầu đang tăng nhanh, đặc biệt là nhu cầu về thực phẩm sạch và an toàn. Tại Việt Nam, Lộc Trời là đơn vị đầu tiên nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất loại gạo mầm với thương hiệu Vibigaba (viết tắt của chữ Vĩnh Bình, Vùng nguyên liệu lúa gạo đầu tiên của Lộc Trời tại An Giang, kết hợp cùng từ viết tắt của hoạt chất Gamma amino butyric acid).
Đây là hoạt chất giúp gạo mầm Vibigaba có các công dụng tốt cho sức khỏe như ổn định đường huyết và cân bằng huyết áp; kiểm soát mỡ máu và ngừa xơ vữa mạch máu; phòng ngừa táo bón và đầy hơi, tốt cho hệ tiêu hóa; Chống Oxy hóa, làm chậm quá trình lão hóa, giúp thư giãn thần kinh tạo giấc ngủ tự nhiên.
Vibigaba là một sản phẩm tiêu biểu chiến lược xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo của Tập đoàn Lộc Trời với mục tiêu nâng cao giá trị của hạt gạo Việt Nam. Trọng tâm của chiến lược này là cùng với người nông dân phát triển sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và các sản phẩm giá trị gia tăng sau gạo.
Bên cạnh việc mở rộng hệ thống phân phối trên toàn quốc, Tập đoàn Lộc Trời đã thành công trong việc xuất khẩu gạo mầm Vibigaba vào các thị trường như Ba Lan, Đức và Trung Quốc. Hiện tại, Lộc Trời đang tiếp tục tiến hành các thủ tục kiểm tra lâm sàng cho gạo mầm Vibigaba để đạt đủ các chứng nhận quốc tế nhằm hướng đến thị trường xuất khẩu trên toàn cầu.
Không chỉ tập trung vào chuỗi sản xuất gạo, Lộc Trời còn đặt mục tiêu phát triển mặt hàng cà phê và các hạt giống rau màu.
Với mục tiêu của Chính phủ tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, tăng GDP sản xuất nông nghiệp từ 3,5% - 4% giai đoạn 2016-2020, hàng loạt các chính sách hỗ trợ ngành nông nghiệp sẽ giúp Lộc Trời và các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.